Giới thiệu lịch sử Đền Thánh Hưng Nghĩa

LỊCH SỬ ĐỀN THÁNH THÁNH TÂM HƯNG NGHĨA

LỊCH SỬ XÃ HỘI


Bút Kí

1984 ( Giáp tý) cuối thế kỷ thứ XX, cũng gần hết lịch trình năm thứ 2000 kêt từ khi Chúa Giáng Sinh, cả địa hạt nói hung, cách riêng là quê tôi, mọi người nô nức đi tìm câu vấn tổ tầm tông, và nhiều gia đình, dòng họ đã tìm được gốc

Vì từ năm 1930 – 1945 là thời kỳ khó khăn cả đời sống vật chất lẫn tinh thần vì đang sống dưới chế độ quân chủ, mọi người phải xiêu tán để kiếm sống, để khỏi chết đói như năm Ất Dậu 1945. 1946 – 1954 đất nước lại lâm vào cảnh chiến tranh khốc liệt chô đến năm 1975 mới kết thúc. Chỉ trong vòng nửa thế kỷ, do nạn đói và chiến tranh đã làm bao gia đình chết đói chia ly, nay có cơ hội gặp.

Anh em chúng tôi cũng trong số những người đi tìm tông tích tổ tông, đồng thời muốn tìm tông tích công lao và tên tuổi các vị tiền nhân có công sáng lập và xây dựng xứ sở Hưng Nghĩa qua các thời kỳ.

May mắn đã gặp được những cụ già làm chứng và kể lại và dựa vào một số tấm kia đá ghi lại bằng chữ nho để lại từ thế kỷ XVII, XVIII, XIX đến năm 1945 và nếu không lưu giữ lại thì thế hệ hậu sinh sẽ không thể biết đên được gốc tích và công lao sáng lập của các vị tiền nhân.

Qua lời kể lại của các vị cao niên như sau :

Thôn giáp Hưng Nghĩa được hình thành từ thế kỷ XVI, XVII, cũng như các khu đất trù phú của mảnh đất miền nam, huyện Giao Thủy – tỉnh Nam Định lúc đó, phía trước là bãi biễn bồi theo tự nhiên. Các vị tổ cố từ nơi đất cũ đầu tỉnh xuống lập ấp quanh đê lấn biển để làm ăn sinh sống, từ Trà Lũ – Võ Lao – Kiên Lao, có 3 dòng họ lớn nhất là : Ngô, Lương và Trần đã xuống lập ấp làm ăn sinh sống. Về sau có thêm họ Nguyễn, họ Đinh, họ Mai cùng tháp nhập vào để làm ăn sinh sống xây dựng thôn xóm vững mạnh. Hàng năm việc sinh cữ tử táng vẫn phụ thuộc vào nơi đất cũ để đóng góp đất mẹ tổ.

Sau dân số các họ nơi đây, họ Hưng Nghĩa lập họ Kính Danh 1726, nhà thờ làm trước ông đồ Sinh, là một họ lẽ thuộc xứ Kiên Lao, nhờ việc cạch tranh của các nhà hữu trách, cùng các thôn xã khá trong miền, đã phân ra một tổng Kiên Trung, theo kể lại việc phân chia này rất gian nan. Đến 1838 dưới triều Minh mạng cấm đạọ thì nhà thờ này trước ông đồ Sinh bị giải hạ. Đến năm 1862 sau cơn cấm cách đời Tự Đức thì mới tiếp tục làm nhà thờ May Bể ở thổ đất chỗ nhà Ông Bỉnh thuộc xứ Trung Thành, đến năm 1920 đời Cha già Trí đang coi xứ Trung Thành, cử Cha Hoành xuống coi họ Hưng Nghĩa, và Ngài xoay nhà thờ lại hướng như bây giờ, năm 1920 nên chính xứ.

Vì quyền quý, tranh dành quyên lợi, trong việc này có sự đóng góp tích cực của các cụ : Trần Trọng Quý là nhà tu, người họ Trần. Ông sinh ra và lướn lên tại thôn Hưng Nghĩa, ông có công trong việc phân tổng, xã kiên Trung ăn từ trại vó Trung Thành trở xuống. Thất đoạn sơ qua các cụ kể về sự đời.

Về đạo giáo : nơi đây là toàn tòng từ lâu đời, có lẽ từ thời các Đấng Dòng Chúa Cứu Thế sang giảng đạo, nên đã sớm hấp thụ lòng mộ mến sự đạo Thánh Đức Chúa Trời vững vàng. Cho nên khi Minh Mạng – Tự Đức cấm đạo, đã có nhiều vị đứng ra bảo về đức tin và được phúc tử đạo. Phần này sẽ được nói cụ thể.

Việc đạo lúc đó cũng phải phụ thuộc vào đất mẹ, vì lúc đó Kiên Lao là làng có đạo trước, và là xứ lớn, kiêm hầu hết các họ có đạo thuộc phía nam tỉnh Nam Định, nên các Đấng Thừa Sai sang giảng đạo đã lấy Kiên Lao làm đầu địa phận. Hàng năm, tuần tiết lễ nghi đều phải đóng góp về xứ chính, mãi đến đời Đức Cha Thuận mới được phân tách thành xứ Kiên Trung, nay la xứ Trung Thành. Các họ phía nam như: Hưng Nghĩa, Hà nạn… đều phụ thuộc vào xứ Trung Thành. Việc đóng góp lễ nghi hàng năm đều quy về xứ chính, theo các cụ kể lại, việc này cũng xảy ra những vụ chẳng hay như: bắt chiêng trống phạt tiền, đàn áp họ lẻ…năm 1925, Khải Định năm thứ 5, tức là năm Canh thân đời Tự Đức, Cha Trung họ Hưng Nghĩa được phân ra xứ chính. Mãi cho đến ngày nay có họ Bà.

Để làm chứng nơi đây đạo giáo đã có từ lâu đời, đức tin vững vàng hơn, cho nên từ năm 1850 – 1950 đã có nhiều Linh mục là con em thuộc xứ Hưng Nghĩa.